Chuyên đề 08/10/2013

Chuyên đề: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC PHÂN HÓA THEO ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH

I. Đặt vấn đề.

Trong những năm gần đây, ngành GD-ĐT đã có nhiều chủ trương đẩy mạnh hoạt động giáo dục bằng nhiều hình thức với nhiều biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục từ vùng có điều kiện thuận lợi đến vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt năm học 2013- 2014 thực hiện theo công văn 829/ SGDĐ-GDTrH của Sở GD&ĐT Bạc Liêu; Công văn 135/PGDĐT ngày 21/8/2013 của Phòng GD&ĐT Giá Rai.

Mặt khác, ngoài việc thực hiện đúng chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình, giáo viên phải cân đối giữa truyền thụ kiến thức với rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong quá trình giảng dạy. Giáo viên không được lạm dụng đọc - chép, mà phải hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng tư duy, kỹ năng tự học. Giáo viên thường xuyên liên lạc với gia đình, thông báo kết quả rèn luyện, học tập tới gia đình học sinh từng học kỳ; giúp đỡ, khích lệ kịp thời đối với học sinh yếu kém khi các em có sự tiến bộ, từ đó các em học tập tốt hơn, không bỏ học giữa chừng”.

Giáo viên điều tra cơ bản học sinh thật chắc. Trong quá trình dạy tiếp tục quan sát, khám phá đặc điểm tâm lý học sinh qua ngôn ngữ hành vi, quan hệ đối xử, ghi nhận đặc điểm và kết quả rèn luyện từng học sinh qua từng giai đoạn.

Giáo viên phải hết sức tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm cao và thương yêu học sinh, quan tâm đổi mới phương pháp, sâu sát và am hiểu đặc điểm hoàn cảnh và sức học từng em học sinh trong lớp. Nên dành thời gian tiếp xúc với học sinh: trước, trong và sau giờ học để nắm bắt thông tin cá nhân và có biện pháp giáo dục phù hợp. Cần thường xuyên gặp phụ huynh học sinh để trao đổi, nắm bắt thông tin cần thiết. 

Căn cứ theo trình độ mà nêu những yêu cầu sát hợp trong việc thực hiện chương trình, soạn giáo án và hệ thống bài tập. Mỗi bài giảng cần có những phần thích ứng với từng đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu. 

Có thang bậc đánh giá, cho điểm cụ thể cho từng loại đối tượng, căn cứ vào mức khởi điểm. Vì nếu áp dụng theo một công thức chung cho cả lớp sẽ không thấy được nỗ lực của những em yếu kém và không tạo động lực cho những em khá, giỏi. 

Vô hình chung sự đánh giá đồng loạt là không công bằng.

Tôn trọng những ý kiến cá nhân cho dù ý kiến đó có khác suy nghĩ thông thường của người thầy hoặc có thể chưa đúng, chưa hay lắm. Khuyến khích các em phản biện, chấp nhận cách giải, làm bài tập khác cách giải thông thường miễn hợp logic và đúng đáp số. Cho điểm cao những suy nghĩ độc lập, sáng tạo, chân thật. 

Hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, có tư duy độc lập, biết các diễn đạt suy nghĩ của mình, chống lối học vẹt, học tủ. Khuyến khích việc sinh hoạt nhóm, tạo điều kiện cho các em dịp thể hiện ý kiến cá nhân trong tập thể, khuyến khích sự sáng tạo, năng động. 

Thực hiện môi trường học thân thiện để trẻ có cảm giác an toàn, vui tươi, hứng khởi trong việc học. Từ mối quan hệ thầy trò tốt đẹp, học sinh sẽ tự tin, mạnh dạn trao đổi với giáo viên điều chưa hiểu hay vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Giáo viên cần quan tâm lắng nghe, chia sẻ, cảm thông và định hướng tư tưởng cho học sinh. Nếu giáo viên cùng tham gia với học sinh một số hoạt động như: lao động, tập văn nghệ, làm báo, tham quan, cắm trại… sẽ hiểu học sinh hơn, tạo mối quan hệ gắn bó gần gũi và dễ dàng thực hiện phương pháp giáo dục cá thể hóa.

“Dạy học chú ý sự khác biệt cá nhân” một phương pháp giáo dục tiến bộ, tôn trọng độc lập tư duy, khơi gợi sáng tạo, ươm mầm cho từng cá nhân phát triển. Không máy móc nào có thể thay thế được người thầy với tình cảm cao đẹp tâm hồn phong phú, nhân cách hướng thiện và sự nhạy cảm với từng cá nhân học sinh. Chính người thầy chứ không phải ai khác sẽ “đo ni đóng giày” cho học sinh.

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP.

1. Đối tượng là học sinh trung bình.

          a.Quan sát, tiếp thu

Giáo viên giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản, tối thiểu, cần thiết.  Giáo viên cần kết hợp vừa giảng vừa luyện, phân tích chi tiết, cụ thể, giúp học sinh hiểu khái niệm không hình thức. Đồng thời với cung cấp kiến thức mới là củng cố khắc sâu thông qua ví dụ và phản ví dụ. Chú ý phân tích các sai lầm thường gặp. Tổng kết tri thức và các tri thức phương pháp có trong bài. Đây là giai đoạn khó khăn nhất, giai đoạn làm quen tiến tới hiểu kiến thức mới, đồng thời là giai đoạn quan trọng nhất, giai đoạn cung cấp kiến thức chuẩn cho học sinh. Kinh nghiệm cho thấy khi hoàn thành tốt giai đoạn này học sinh sẽ tiếp thu tốt hơn ở các giai đoạn sau.  

 b. Làm theo hướng dẫn Giáo viên cho ví dụ tương tự học sinh bước đầu làm theo hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên. Học sinh bước đầu vận dụng hiểu biết của mình vào làm bài. Giai đoạn này thường vẫn còn lúng túng và sai lầm, do học sinh chưa thuộc, chưa hiểu sâu sắc. Tuy nhiên giai đoạn 2 vẫn có tác dụng gợi động cơ cho giai đoạn 3.  

          c. Tự làm theo mẫu Giáo viên ra một bài tập khác, học sinh tự làm theo mẫu mà giáo viên đã đưa ra ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2. Giáo viên tạm đứng ngoài cuộc. Ở giai đoạn này học sinh độc lập thao tác. Học sinh nào hiểu bài thì có thể hoàn thành được bài tập, học sinh nào chưa hiểu bài sẽ còn lúng túng. Giáo viên có thể nắm bắt được việc học tập cũng như mức độ hiểu bài của cả lớp và từng cá nhân thông qua giai đoạn này, từ đó đề ra biện pháp thích hợp cho từng đối tượng. Giai đoạn 3 có tác dụng gợi động cơ trung gian. Giáo viên thường vận dụng giai đoạn này khi ra bài tập về nhà. 

          d. Độc lập làm bài tập Giáo viên nên ra cho học sinh:

2. Đối tượng là học sinh khá giỏi

         *Yêu cầu:    

          - Bài soạn của giáo viên phải có nội dung cho nhóm đối tượng học sinh giỏi.

           - Trong giờ chính khóa, đối với học sinh giỏi, giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi hoặc bài tập phù hợp với khả năng phát triển của học sinh.

          - Giáo viên lựa chọn nội dung mỗi tiết học phù hợp với đối tượng học sinh nhằm phát huy trí thông minh, sáng tạo khi trả lời các câu hỏi hoặc giải đáp các bài tập, tạo điều kiện cho học sinh giỏi biết cách hướng dẫn đối tượng học sinh khác học tập và đạt kết quả tốt.

          - Giúp học sinh biết cách vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống xung quanh. Cần tạo điều kiện để tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập và phát triển năng lực, sở trường, năng khiếu của từng học sinh.

          - Giáo viên tổ chức các hoạt động giảng dạy và giáo dục một cách đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm tâm lí học sinh và điều kiện cụ thể ở mỗi lớp: dạy trong lớp, dạy ngoài không gian lớp học, tổ chức học ngoại khóa ở thư viện, tổ chức hội thi...

          - Ngoài ra, giáo viên nên tổ chức sinh hoạt để học sinh trình bày cách học, cách suy nghĩ khi làm một bài toán, bài tập làm văn...Qua đó góp phần bồi dưỡng học sinh giỏi đồng thời tác động tích cực đến những đối tượng học sinh khác trong lớp.

         - Tổ chức giao lưu học sinh giỏi giữa các lớp với nhau nhằm tạo điều kiện để học sinh thể hiện khả năng vận dụng, tư duy sáng tạo về một vấn đề, một đơn vị kiến thức trong chương trình... nhằm giúp học sinh tự tin và có hướng phấn đấu trong tương lai.

 3. Đối tượng là  học sinh yếu, kém.

Những học sinh yếu kém luôn khiến bạn phải nghĩ cách cải thiện phương pháp giảng dạy, hướng dẫn học tập sao cho phù hợp. Khi học sinh chưa giỏi, đó cũng là lúc ta cảm thấy công việc giảng dạy chưa thực sự thành công. Vậy chúng ta, những người giảng dạy nên làm gì?

Một tình huống đặt ra là giáo viên cứ nhiệt tình dạy, song, một số học sinh yếu kém trong lớp không thể tiếp thu bài. Và kết quả là khi kết thúc khóa học, trình độ của học sinh không hề tiến bộ so với lúc ban đầu. Liệu trong trường hợp đó, bạn có tư tưởng mặc kệ học sinh? Trách nhiệm của những thầy cô giáo là tìm ra phương pháp để giúp đỡ những học sinh yếu kém tiến bộ. Tiến bộ không chỉ đánh giá qua việc đạt điểm qua trong môn học. Đôi khi, nó có nghĩa là học sinh học được những bài học về bản thân họ và cách thức làm việc ở trường, lớp cũng như công việc sau này. Đôi lúc, sự giúp đỡ của bạn đối với những học sinh đó dường như không đáng kể hoặc không đạt được kết quả gì, nhưng giúp đỡ học sinh là trách nhiệm thiêng liêng của người thầy. 10 bước sau sẽ giúp ta hoàn thành nhiệm vụ cao quý của mình:

          1. Sớm phát hiện ra những học sinh có lực học yếu hơn với các em khác trong lớp. Bằng nhiều hình thức, giáo viên có thể đánh giá được trình độ và khả năng của học sinh trong tuần đầu giảng dạy, ví dụ như thông qua bài kiểm tra, bài viết trên lớp và qua những trả lời ngắn trên lớp.

2. Gặp riêng các em để nói về bài kiểm tra, tinh thần ý thức học tập chưa tốt trong việc hoàn thành bài tập về nhà, tuân thủ các quy tắc của lớp học bao gồm cả thời gian lên lớp, … Rất nhiều sinh viên luôn trốn tránh, không chịu thừa nhận các khuyết điểm trong học tập của mình với những câu tương tự như: “Dạ không có gì đâu thưa cô, cô đừng lo.” Những lúc đó, bạn phải chỉ ra cụ thể và thẳng thắn, ví dụ như "Cô không tìm được một câu nào đúng trong bài viết của em.”

3. Yêu cầu học sinh tự nhận thấy nhược điểm trong việc học của riêng mình và tự đưa ra nguyên nhân và hướng giải quyết. Chính sự tự nhận thức và quyết định khắc phục nhược điểm là chìa khóa thành công cho bất kì học sinh nào. Bên cạnh đó, giáo viên cố gắng không cho phép học sinh coi nhẹ vấn đề, và cùng các em phân tích các vướng mặc gặp phải.

4. Lắng nghe học sinh trình bày vấn đề với thái độ chăm chú nhất. Luôn tỏ thái độ tôn trọng và động viên các em.

5. Giúp học sinh vạch ra kế hoạch hành động để đạt được mục tiêu mang tính thực tế. Hãy giúp các em ôn tập lại những kiến thức căn bản và từng bước nâng cao trình độ. Chúng ta không nên đảm bảo với các em là các em sẽ đạt điểm qua trong các kì thi và hãy cho các em cơ hội để tiến bộ.

6. Theo dõi sát sao việc thực hiện kế hoạch mà các em đã vạch ra và chắc chắn rằng các em đang làm đúng theo kế hoạch đó. Hãy cho các em biết là bạn đang rất quan tâm đến thành công của các em. Và cũng đừng tiếc khi khen ngợi sự tiến bộ của các em hàng ngày trước lớp nếu các em xứng đáng được khen ngợi. Ví dụ như: “Ngữ pháp của em khá hơn nhiều trong bài viết này đấy!”, “Đây là điểm cao nhất của em trong kì này” … Những lời động viên, khích lệ của có thể giảm dần khi mà bạn thấy rằng học sinh đó thực sự tiến bộ.

7. Nhắc nhở các em ghi nhớ mục tiêu đề ra. Bạn có thể gợi ý các em gặp riêng mình để yêu cầu được giúp đỡ thay vì đưa ra những lời phàn nàn về thái độ học tập của các em trước lớp.

8. Hãy là nguồn tài nguyên cho học sinh. Gợi ý cho học sinh mượn tài liệu phù hợp với trình độ của các em, kèm dạy riêng nếu các em thực sự cần.

9. Thay đổi các phương pháp dạy học để học sinh cảm thấy hứng thú như tạo trò chơi, thảo luận nhóm, phần thưởng… Hãy tạo cơ hội cho những học sinh yếu hơn được “tỏa sáng” và đánh giá cao khi các em có ý kiến hay. Nhưng bạn cũng không nên hạ thấp các mức tiêu chuẩn để đánh giá một học sinh chăm chỉ.

10. Hãy công nhận sự cố gắng của các em cho dù các em không vượt qua bài kiểm tra. Hãy dành một vài phút trước giờ học để nói rằng “Dạng bài tập về bị động có vẻ vẫn khó khăn với em, nhưng cô nhận thấy là em đã có học chúng.” Và hãy để học sinh tự nhận thấy sự tiến bộ của mình, “Em có thấy là kĩ năng đọc của em tốt hơn nhiều so với 4 tuần trước đó không?”

Nếu ta đã làm đúng như các bước gợi ý trên, điều đó nghĩa là ta cố gắng hết sức mình với lương tâm của người thầy để giúp đỡ học sinh thân yêu. Và khi đó, không phải là ta mà chính các em sẽ là người chịu trách nhiệm về sự thất bại hoặc là thành quả tiến bộ của chính mình.

Tóm lại, dạy học phân hóa theo năng lực học tập của học sinh là chủ trương nhằm giúp cho từng đối tượng học sinh đi vào các tiết học một cách hứng thú, các em không cảm thấy chán với những kiến thức quá dễ, cũng không mệt mỏi bởi những kiến thức quá khó và ôm đồm trong các tiết học.

Trên đây là một vài kinh nghiệm xuất phát từ quan điểm cá nhân chắc còn nhiều giải pháp hay hơn, hữu hiệu hơn từ quý anh em đồng nghiệp, mong được sự chia sẽ để năm học 2013- 2014 bộ môn Ngữ văn của chúng ta thu được nhiều kết quả mĩ mãn hơn.

 

 

Trường THCS Giá Rai B